Xin chờ truy cập..


Tin tức mới nhất

Trình bầy

Cập nhập thông tin mới nhất liên quan các lĩnh vực sống khỏe , minh mẫn , có ích cho xã hội
18020120821161625.jpg

“Nghiên cứu ứng dụng Phật pháp trong hỗ trợ điều trị bệnh nhân HIV/AIDS” – thoạt nghe tên công trình nghiên cứu này, chúng tôi bất ngờ bởi sự “hoang đường” của một đề tài khoa học, bởi căn bệnh thế kỷ làm nền y học thế giới “vã mồ hôi hột” trong nhiều thập niên qua lại có thể bị chặn đứng bởi một giải pháp mang đậm màu sắc tâm linh: Tụng kinh niệm Phật

Tuy nhiên, khi tiếp xúc trực tiếp với những người đã dày công xây dựng công trình này mấy chục năm qua, với những người bệnh đang trực tiếp điều trị, niềm tin của chúng tôi bắt đầu được nhen nhóm. Đương nhiên, muốn khẳng định đây là một phát hiện có giá trị khoa học và để áp dụng rộng rãi được trong cộng đồng thì công trình này cần phải có thêm nhiều kết quả thực nghiệm ở mức độ cao hơn bởi các cơ quan chức năng uy tín.

Cuộc gặp gỡ của hai người phụ nữ kỳ lạ

Bà Lê Thị Tâm có khuôn mặt đôn hậu, mái tóc bạc trắng. Tuy đã ngót 80 tuổi nhưng dáng đi của bà vẫn còn rất nhanh nhẹn, trí tuệ sắc sảo và mẫn tiệp. Nếu chỉ nhìn vào dáng vẻ bề ngoài của bà, khó ai có thể tin rằng, bà đã không dưới một lần đối diện với tử thần vì bệnh tật. Bà từng mắc đến 15 loại bệnh, trong đó có căn bệnh nan y: ung thư cổ tử cung. Có đận, khối ung thư trong người vỡ ra, người nhà đã chuẩn bị lo hậu sự nhưng chẳng hiểu có phép mầu gì mà bà lại vực lên được rồi lần hồi tự chữa bệnh cho mình và đã khỏi được bệnh. Hỏi về bí quyết chiến thắng nhiều cơn bạo bệnh, bà chỉ nói ngắn gọn: “Phật pháp nhiệm mầu”.

Gần 30 năm trước, khi đang giữ chức Trưởng ban giám sát điện năng của quận Hai Bà Trưng, Hà Nội thì bà Tâm bị bệnh thiên đầu thống. Khi bệnh này còn chưa khỏi thì bà lại mắc thêm bệnh máu nhiễm mỡ, viêm gan mãn tính, rồi bị ngã, xương sống bị sút, sau đó thành bại liệt. Bệnh tật đã biến bà thành một phế nhân, chỉ nằm chờ chết.

Trong những giải pháp cuối cùng để cứu vớt sự sống, bà Tâm tìm đến chùa Quán Sứ để tĩnh tâm. Tại đây, bà đã gặp hòa thượng Thích Tâm Tịch và được truyền thừa. Sau một thời gian vừa uống thuốc vừa kết hợp với sám hối, ngồi thiền và tụng kinh niệm phật, bà tự giác ngộ rằng, căn nguyên của tất cả là do cái nghiệp gây nên. Thật kỳ diệu, chỉ trong vòng 3 năm, mọi bệnh tật của bà bị đẩy lùi mà ngay cả đến các bác sĩ tại nhiều bệnh viện lớn phải bất ngờ.

Bà Lê Thị Tâm – người đã chiến thắng bệnh tật nhờ tụng kinh niệm Phật

Từ niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh tinh thần, bà Tâm cho rằng, bệnh tật là do nghiệp gây ra. Nếu tu dưỡng tốt, trì tụng kinh Phật có thể thay đổi nghiệp, có thể nhiều bệnh sẽ khỏi. Từ suy nghĩ này, bà Tâm liều lĩnh khẳng định có thể ứng dụng Phật pháp để hỗ trợ điều trị bệnh nhân HIV/AIDS.

Bệnh nhân nhiễm HIV đầu tiên được bà Tâm đưa vào chữa trị là người phụ nữ tên Hà, ở Đông Anh, Hà Nội. Hoàn cảnh của chị Hà hết sức éo le: hai vợ chồng và đứa con duy nhất đều bị HIV, kinh tế gia đình khánh kiệt, cả gia đình chị Hà chỉ nghĩ đến cái chết.

Bà Tâm bắt tay vào trị bệnh cho gia đình chị Hà bằng phương pháp tương đối đơn giản. Trước tiên người bệnh phải gạt bỏ hết suy nghĩ tiêu cực, hướng đến tương lai tươi sáng, bỏ qua suy nghĩ cũng như hành động tàn ác để hướng đến điều thiện, làm việc thiện. Ngoài ra, trước mỗi buổi ngồi thiền, nghe giảng đạo và tụng kinh, bệnh nhân cần phải tắm rửa, vệ sinh sạch sẽ.

Sau một thời gian ngồi thiền, kết hợp đọc và được nghe giảng kinh, anh chị Hà thấy sức khỏe của mình tiến bộ đến không ngờ. Những cơn ho đã giảm bớt, sắc mặt đã hồng hào hơn và quan trọng nhất, anh chị đã bớt tuyệt vọng hơn vào cuộc sống.

Kết quả bước đầu trong hỗ trợ điều trị HIV/AIDS bằng tụng kinh niệm Phật đã làm bà Tâm hết sức phấn khởi. Tuy nhiên, suy cho cùng, đó cũng chỉ là cách chữa “mò” mà kết quả cũng như cách thức vẫn chưa được kiểm chứng bằng khoa học hiện đại. Chỉ đến khi bà Lê Thị Tâm gặp GS Phan Thị Phi Phi, nguyên giảng viên Đại học Y Hà Nội thì những vấn đề này mới bắt đầu được gỡ rối. GS Phi là nhà khoa học, có cách nhìn nhận và luận giải mọi vấn đề bằng tư duy khoa học. Từ niềm tin bước đầu, GS Phi kết hợp với Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng con người, Viện Vệ sinh phòng dịch Quân đội để xây dựng đề tài khoa học “Nghiên cứu ứng dụng Phật pháp trong hỗ trợ điều trị bệnh nhân HIV/AIDS”.

Tế bào miễn dịch tăng lên

GS Phan Thị Phi Phi cho biết, theo nhà thần kinh học S. Freud (1856-1939) thì mọi căn bệnh mắc phải là do rối loạn và mất cân bằng giữa ý thức, tiềm thức và bản năng. Trong số các bản năng của sinh vật thì bản năng sống là một bản năng mạnh, mãnh liệt trong mọi giai đoạn cuộc sống. Claude Bernard, nhà sinh lý học thiên tài và y học thực nghiệm của Pháp thế kỷ XVIII, nhà khoa học đầu tiên gắn liền sự sống với sự hằng định nội môi (homeostasis), yếu tố quyết định đến sự sống. Đến đây, sự sống của sinh vật đã ổn định và tăng cường lên. Chính vì thế, áp dụng lý thuyết này vào hỗ trợ điều trị bệnh nhân HIV/AIDS chắc chắn sẽ có tác dụng.

Các bệnh nhân HIV đang tụng kinh niệm Phật tại chùa Văn Điển, Hà Nội

Trong khi đó, kinh Phật nói rằng: Bệnh tật, số phận con người là do nghiệp gây ra. Nếu tu dưỡng tốt, trì tụng kinh Phật có thể thay đổi nghiệp, có thể nhiều bệnh sẽ khỏi. Mục tiêu mà đề tài này hướng đến là: Người bệnh hiểu và trình bày được luật nhân quả ba đời và 12 câu thần chú dùng trong trì tụng hằng ngày tại nhà và tổ chức tập trung một lần hằng tháng tại chùa Quang Văn Tự (người dân hay gọi là chùa Văn Điển), Hà Nội. Trong quá trình đó, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành đánh giá sức đề kháng HIV/AIDS trước và sau 6 tháng trì tụng, bằng số lượng các tế bào TCD3, TCD4, TCD8, tỉ lệ TCD4/TCD8 và đặc biệt chú trọng số lượng TCD4 là những tế bào miễn dịch chống HIV/AIDS.

Các bộ kinh được chọn giảng và hướng dẫn trì tụng là kinh Pháp Hoa – giáo pháp về sự chuyển hóa của “Phật tính” và khả năng giải thoát, kinh Dược Sư và kinh Bản Nguyện, kết hợp đọc Chú Lăng Nghiêm và Thập chú.

Đối tượng nghiên cứu là 28 người được chọn từ các bệnh nhân bị HIV/AIDS đang sinh hoạt tại CLB Hoa Sen, chùa Văn Điển, Hà Nội. Họ đều được đưa đi xét nghiệm đánh giá mức độ bệnh trước khi trì tụng, 6 tháng đưa đi xét nghiệm một lần nữa để so sánh. Các chỉ số miễn dịch tế bào được tiến hành ở các trung tâm phòng chống AIDS, Viện Vệ sinh phòng dịch Quân đội, trên máy FACS count SW (Mỹ).

Hội chứng suy giảm miễn dịch AIDS do virus HIV gây ra lần đầu tiên được phát hiện ở Mỹ từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước và nó đã nhanh chóng được tìm thấy mọi nơi trên thế giới, kể cả ở Việt Nam. Trường hợp bị nhiễm HIV đầu tiên tại Việt Nam được phát hiện vào tháng 2/1990. Kể từ đó số bệnh nhân ngày càng gia tăng trên toàn quốc. Tính đến hết tháng 10/2011, tổng số bệnh nhân có HIV của cả nước đã lên gần 246.000 người, trong đó 99.300 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Người mắc AIDS rất ít có dấu hiệu đặc trưng mà chủ yếu là triệu chứng của những bệnh cơ hội do suy giảm số lượng, chất lượng của các tế bào miễn dịch gây ra. Việc sản xuất vắcxin chống lại căn bệnh này là vô cùng khó khăn bởi có quá nhiều các biến thể, các dạng tái tổ hợp mới của virus đã được sinh ra trong thời gian ủ bệnh.

Năm 1987, CDC (Trung tâm Kiểm soát bệnh tật – Mỹ) đã phân loại giai đoạn bệnh dựa vào số lượng tế bào Lympho TCD4. Người chuyển sang giai đoạn AIDS là khi số lượng TCD4<200 tế bào /mm3 máu. Khi HIV vào cơ thể, số lượng tế bào TCD4 bị giảm sút nhanh chóng, khó trở về mức bình thường được nữa. Cùng với TCD4 giảm, tổng lượng lympho máu giảm, đặc biệt TCD3.

Trở lại với công trình nghiên cứu của GS Phan Thị Phi Phi và các cộng sự của mình, qua 6 tháng dùng Phật pháp trì tụng hỗ trợ điều trị HIV, kết quả tổng hợp tất cả các bệnh nhân là vô cùng khả quan. Đa số các bệnh nhân đều có tăng các thành phần miễn dịch tế bào, đặc biệt là TCD4 (60,8% số trường hợp nghiên cứu) và tương tự tăng cả TCD3 và TCD8. Mức độ tăng lần lượt là là 3,4; 11,4 và 89,1. Tỉ lệ TCD4/TCD8 cũng có tăng 52,17% số trường hợp, tuy mức độ tăng rất ít, vì trước thời gian trì tụng, chỉ số này cũng rất thấp. Đặc biệt, đối với 16 bệnh nhân đã dùng thuốc chống virus ARV, số lượng cũng như mức độ tăng đều cao hơn so với giá trị chung của cả nhóm và có nghĩa cũng cao hơn nhóm không sử dụng ARV.

Đặc biệt, trong nhóm nghiên cứu có 3 bệnh nhân HIV giai đoạn muộn (TCD4 từ 50-200), nhưng sau trì tụng thì 2 trong 3 trường hợp này đều có tăng nhẹ TCD4 và một trường hợp giữ thấp như cũ.

Các bệnh nhân đều chưa thay đổi giai đoạn của bệnh (tức là chưa chuyển sang giai đoạn bệnh nặng hơn hay có biểu hiện của bệnh cơ hội AIDS).

Đây là kết quả vô cùng bất ngờ và đáng mừng, tốc độ phát triển của căn bệnh thế kỷ đang được làm chậm lại.

Cần các cơ quan hữu quan vào cuộc

Bà Lê Thị Tâm hay GS Phan Thị Phi Phi và những người trong nhóm nghiên cứu đều có tâm thiện nguyện và niềm tin trong lành vào Phật pháp. Họ đều khát khao muốn đưa Phật học, sức mạnh niềm tin vào để chữa bệnh, không phải chỉ với HIV/AIDS mà còn với rất nhiều những bệnh nan y khác. Đây là một ước mong chính đáng, vô cùng tốt đẹp.

Phật pháp mang nặng giá trị tinh thần, niềm tin tâm linh nhưng HIV lại là một căn bệnh có thật, hiển hiện trong cơ thể của hàng triệu người bệnh đang khiến cả nền khoa học thế giới lùng sục tìm phương thuốc chữa. Hai phạm trù này dường như chẳng có gì liên quan đến nhau, không hề logic trong tư duy của nhiều người.

Chính vì thế, khi nghe đến câu chuyện nghiên cứu khoa học của họ đã có người hồ nghi và đặt ra vô số câu hỏi: có động cơ gì ẩn sau việc làm của họ đây? Liệu việc làm của họ có nhằm mục đích kinh doanh? Họ đã chịu nỗi đau do chính căn bệnh HIV đem đến?

Trên thực tế, tất cả những nghi ngờ này đều là sai cả. Qua tìm hiểu, chúng tôi biết được rằng, GS Phi, bà Tâm… đều mang một trái tim thiện nguyện trong lành không hề vẩn đục. Họ đều đã lớn tuổi nhưng ngày ngày vẫn cần mẫn làm việc giúp bệnh nhân mà không lấy tiền công. Họ kêu gọi các nhà hảo tâm hỗ trợ tiền cho những bệnh nhân HIV, ít thì tiền tàu xe đi lại, nhiều là tiền vốn để làm ăn.

Hiện tại, hằng tháng, những bệnh nhân HIV của CLB Hoa Sen đều sinh hoạt tại chùa Quang Văn Tự, lập đạo tràng, tụng kinh niệm phật để mong tâm mình thanh thản và được ngắm nhìn cuộc sống này lâu hơn nữa. Họ, có người khi mắc HIV đã có ý định quyên sinh, trả thù đời nhưng từ khi đến đây, được nghe giảng kinh, tụng kinh thì họ đã khác, bệnh tật với họ giờ đây trở nên nhẹ nhàng, cuộc sống đã có niềm tin trở lại.

Chúng tôi thì cho rằng, việc tụng kinh niệm Phật, nói lời tốt, sống tốt, làm việc tốt thì đương nhiên từ ngàn đời nay chưa bao giờ là xấu cả. Việc áp dụng tụng kinh niệm Phật để hỗ trợ điều trị HIV đã có kết quả khả quan bước đầu là rất đáng mừng. Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu mới chỉ dừng ở cấp độ của Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng con người, số bệnh nhân được đưa vào thực nghiệm là không nhiều. Để phương pháp điều trị này đi được vào cuộc sống, áp dụng được cho vô số những bệnh nhân có HIV thì lại là một câu chuyện khác, cần nhiều trí tuệ hơn, nhiều công sức hơn và nhiều trái tim thiện nguyện hơn nữa.

Bài viết từ năm 2012

Sẽ có khoảng 60 triệu bệnh nhân AIDS tử vong đến năm 2015. Bất chấp những nỗ lực từ các chính phủ, đại dịch thế kỷ cũng sẽ gây ra những mất mát hết sức to lớn cho hầu hết mọi cộng đồng. AIDS dễ dàng qua mặt trận dịch hạch Black Death vào thế kỷ XIV để trở thành dịch bệnh giết người đáng sợ nhất trong lịch sử nhân loại. Cho đến cuối năm 2007, ước tính có hơn 30 triệu người chết do AIDS và gấp đôi ngần ấy nạn nhân đã bị nhiễm HIV…Cho đến lúc này, vẫn không có một phương thuốc nào thực sự hữu hiệu để chữa trị AIDS ngoài một nhóm tác nhân sinh dược, gồm cả những loại gây tác dụng phụ, nhưng chỉ có tác dụng làm chậm lại tiến trình phát bệnh AIDS mà thôi. Để chữa trị AIDS, các chuyên gia thường sử dụng kết hợp đồng thời một hỗn hợp gồm từ 3 hay nhiều hơn các dạng sinh dược khác nhau, vì cách này sẽ giúp làm chậm lại khả năng kháng thuốc của HIV. Tuy nhiên, virus này vẫn có khả năng tiến hóa nhanh để vô hiệu hóa hầu hết các loại biệt dược, đặc biệt khi chế độ chữa trị không được tuân thủ nghiêm khắc.


images.jpeg

Ai cũng đều có suy nghĩ  về cuộc sống khi về già. Ở cùng con là lựa chọn truyền thống và phổ biến nhất từ trước tới nay ở Việt Nam. Nhưng ở  thế hệ chúng tôi 7X, lựa chọn này đã không còn dễ dàng như với các thế hệ trước.

Tôi ở cùng gia đình tại Hà nội và đã tự lập từ sớm. Vì cuộc sống khó khăn nên cuộc số thời những năm trước 2000 rất tình cảm ( Kho khăn, ngọt bùi đều được sẻ chia) và tại thời điểm đấy cũng chỉ có mong ước khi về già thì con cái mình cũng sẽ như mình được ở quây quần với cha mẹ và họ hàng.

Xã hội Việt Nam vận động theo quy luật vốn có của thị trường, mọi người lao vào lao động, học hành để có mong muốn thoát nghèo và cuộc sống tốt đẹp hơn. Cái gì cũng có cái giá của nó.

Có 1 thành viên CLB hỏi tôi ” Về già dựa vào ai” Tôi tìm được câu chuyện trên mạng và muốn chia sẻ 1 góc độ nhìn để thành viên CLB có thể phần nào cảm nhận thực tế xã hội và nếu hiểu xã hội như vậy thì mình sẽ có nhiều giải pháp đối trị

——————————————————————–

Bài viết của Huỳnh mai: Chúng tôi đi học xa nhà từ 18 tuổi rồi tự lập luôn ở thành phố lớn, hầu như không có bà con họ hàng, quê hương… bên cạnh. Rồi con cái cũng vậy, chúng hầu hết đều đi học ở nước ngoài và không muốn về Việt Nam. Thế hệ chúng tôi lại ít con, mỗi nhà hai đứa là nhiều nhất, và cũng không ít người không lập gia đình hay không có con. Cho nên khi bọn nhỏ muốn định cư ở nước ngoài thì cha mẹ hầu như đều được khuyên rằng về già thì theo con sang đó sống.

Định cư theo con rồi ngồi trong bốn bức tường

Nhưng, thế hệ chúng tôi hiểu rõ sự quý báu của cuộc sống có tự do cá nhân. Cha mẹ chúng tôi thường sống với những người con khác ở quê hương-những đứa con không đi xa và có nhiều thời gian hơn để chăm sóc cha mẹ. Khoảng cách thế hệ vốn đã lớn thì còn lớn hơn với những đứa con trưởng thành và sống xa cha mẹ, do không sống chung nên cũng khó hiểu nhau và thiếu thốn những ký ức chung.

Thế thì con cái chúng tôi-những đứa trẻ trưởng thành ở Anh, Mỹ, Úc… thực chất hầu như đều đã trở thành những quả chuối (da vàng nhưng bên trong thì “trắng”) làm sao chúng có thể chăm sóc cha mẹ già Việt Nam trăm phần trăm? Mà lại là Việt Nam đã bị bứng ra khỏi hoàn cảnh và môi trường sống quen thuộc từ tấm bé, với bạn bè, họ hàng, đồng nghiệp cũ…, để sang sống ở một môi trường hoàn toàn lạ lẫm, thậm chí ngôn ngữ cũng không thông thạo? Nhiều đứa sẽ lấy vợ, lấy chồng Tây, khoảng cách thế hệ, văn hóa và dân tộc tính ngày càng lớn nhưng thời gian dành cho gia đình ngày càng ít, liệu cha mẹ già có thể sống vui với chúng những ngày cuối đời? Những người chúng tôi quen biết thân quý thì chúng không biết, và ngược lại. Những gì đã tạo nên ký ức của chúng tôi không có giá trị tương tự với chúng, và ngược lại

Có thể nói, khi sang nước ngoài sống cùng với con thì chúng tôi là cái cây bị bứt hết gốc rễ. chỉ còn phụ thuộc vào mỗi một mình con cái. Nếu chúng “trở mặt”, không dành đủ thời gian hay không chăm sóc được như ý, cha mẹ sẽ tủi thân vô cùng vì không có ai khác để chia sẻ. Cô đơn trong bốn bức tường thôi.

Rất nhiều đứa bé được cho đi học xa nhà từ tuổi thiếu niên hầu như đều cảm thấy Việt Nam không còn là nhà của nó nữa. Mọi thứ đều xa lạ, trừ cha mẹ. Bạn bè, thầy cô, khí hậu, thời tiết, thức ăn, văn hóa, lối sống… những gì nó quen thuộc và thích nhất đều ở bên kia đại dương cả rồi.

Cha mẹ nài nỉ: Con đi đâu thì cứ đi nhưng mai mốt ba mẹ già rồi thì về Việt Nam ở với ba mẹ. Ba mẹ có một mình con!

Nó trả lời: Con xin lỗi nhưng con  cũng không lựa chọn làm con một của cha mẹ (tức là việc cha mẹ do chỉ có một đứa con nên suy luận rằng nó phải có nghĩa vụ tuân theo cha mẹ là không hợp lý).
Sợ cha mẹ buồn, nó nói rõ: sẽ chăm lo cha mẹ khi về già, nhưng nó không ở Việt Nam như ý cha mẹ muốn.

Không đi theo con thì về già sống ra sao? Rất nhiều người trong chúng tôi tính sẽ vào nhà dưỡng lão.

Ngay cả những gia đình con cái đều ở Việt Nam thì hầu hết cũng nghĩ sẽ vào nhà dưỡng lão khi già yếu, cũng với những lý do đó.

Nhà dưỡng lão ở Việt Nam

Mô hình nhà dưỡng lão đã được đặt ra từ hai, ba mươi năm nay, nhất là khi dân số già ở Việt Nam ngày càng tăng. Nhưng vì nhiều lý do nên nó vẫn chưa phổ biến.

Tôi cho rằng tài chính là lý do lớn nhất.

Phần đông người Việt Nam vẫn sống dưới mức trung lưu. Người bình dân thường thường sẽ sống như tập quán là sống cùng con cháu khi về già. Những người giàu có, chủ doanh nghiệp hay có nhiều tài sản cũng vậy, con cháu họ sẽ chăm sóc.

Số đông là tầng lớp công chức và trí thức trung lưu mong muốn cuộc sống độc lập, tự do không phụ thuộc con cháu thì lương hưu quá thấp. Nếu chỉ dựa vào lương hưu thì không đủ trả chi phí cho nhà dưỡng lão (lương hưu thấp nhất khoảng 4 triệu đồng, cao là khoảng 6-7 triệu đồng/tháng, trong khi phí trả cho nhà dưỡng lão thấp nhất khoảng 7 triệu đồng/tháng (nhu cầu cơ bản, thường phải cộng thêm các phí khác, tổng khoảng 10 triệu cho gói thấp nhất), trung bình khoảng 12-15 triệu/tháng). Hoặc phải bán nhà cửa đi (thường tầng lớp này cũng chỉ có một tài sản lớn nhất nhà cửa), nhưng thế thì con cháu sinh sống chỗ nào? Văn hóa làm cha mẹ của người Việt là phải để lại tài sản cho con, thế cho nên dù chật chội, thiếu thốn thì nhiều người già vẫn không bán tài sản để hưởng thụ cá nhân mà chọn cách ở với con cháu cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Thứ hai, chưa có niềm tin vào nhà dưỡng lão.

Tôi có người bạn đã gửi ba của nó vào một nhà dưỡng lão tư nhân ở Củ Chi, ven Sài Gòn. Chi phí thấp nhất (phòng năm giường) là 10 triệu đồng/tháng. Cao nhất (phòng riêng) là 18 triệu đồng/tháng, chưa kể phụ phí đồng phục, chăm sóc khi bị bệnh và trong các ngày lễ tết.

Bạn tôi là con gái một. Mẹ bị tâm thần đã vài chục năm, không hung dữ phá phách nhưng suốt ngày đi lang thang rồi ghé tiệm của con xin tiền.

Khi bạn tôi có bầu đồng thời ba nó bị đột quỵ, không còn cách nào khác, nó phải gởi ba vào nhà dưỡng lão.

Hai ngày đi cùng nó lên thăm cha, tôi đã đủ ngậm ngùi.

Nhà dưỡng lão chia làm bốn loại khách hàng: Thứ nhất là các cụ ông/cụ bà còn tương đối khỏe mạnh và minh mẫn. Thứ hai là các cụ yếu hơn nhưng vẫn đi đứng được, có người lúc tỉnh lúc lẫn. Thứ ba, các cụ phải chăm sóc gần như toàn bộ, ăn phải có người đút, hầu hết không tự di chuyển được hoặc khá yếu nên phải ngồi xe lăn. Thứ tư là các cụ gần như chỉ còn sống thực vật, cho ăn qua ống.

Các ông bà cụ trong nhà dưỡng lão này không được mặc áo quần riêng, cũng không được dùng đồ cá nhân. Vào đây, họ đều được phát mấy bộ đồ đồng phục bằng thun dày màu cam, cổ tròn, cả ống tay áo và ống quần đều được may ngắn hơn bình thường để đỡ vướng. Tóc thì húi cua sạch cả cụ ông lẫn cụ bà, nên nhìn vào gần như chẳng phân biệt được bà hay ông. Bát chén riêng không được dùng mà ăn bằng cái tô inox của Nhà dưỡng lão.

Mỗi tuần, con cháu được lên thăm các cụ vào thứ bảy và chủ nhật. Đó là những ngày rộn ràng, vui tươi nhất của các cụ. Khi người thân đến nơi, bảo vệ sẽ báo vào bên trong (người thân không được vào khu lưu trú). Bảo mẫu sẽ săn sóc, chải tóc, thay quần áo cho các cụ nếu cần, rồi đẩy xe lăn ra sảnh tiếp đón. Khu này rộng, có mái che, nhiều bàn ghế, lại gần một hồ sen, có cây cảnh, tượng Phật nên thoáng mát và có thiên nhiên để ngắm nhìn. Thường các gia đình mang rất nhiều thức ăn đủ loại lên để “thăm nuôi” ông bà cha mẹ. Vô số thức ăn bày trên bàn, người này mở, người kia giục, người nọ xúc… ông bà vừa ăn chưa hết miếng này thì con cháu đã mở hộp thức ăn khác, xúc miếng khác..

Đến xế chiều, con cháu lần lượt ra về. Các cụ trở vào khu lưu trú. Khi hai cánh cửa mắt cáo ngăn cách hai khu khép lại cũng là lúc các cụ thầm đếm xem còn bao nhiêu buổi sáng, buổi chiều và buổi tối thì đến ngày được gặp con cháu lần nữa.

Tôi may mắn được chứng kiến bữa cơm của họ.

Bữa cơm gồm hai món: canh rau và một món mặn.  Tất cả đều được nhân viên nấu nóng trong bếp, nhưng tất cả đều mang một cái màu: màu … cháo lòng, và một cái mùi: mùi thức ăn ít gia vị, nhạt nhẽo và được nấu lâu trên bếp.

Cơm trong nhà dưỡng lão đều từ nhão đến rất nhão, để các cụ già dễ nuốt. Canh cũng quanh đi quẩn lại  bí đỏ, bí xanh, bắp cải… tất cả đều lõng bõng và chín nhừ. Thức ăn mặn thường là cá, trứng chiên hoặc ít thịt nạc kho nhạt. Các cụ khỏe còn tự xúc ăn được. Các cụ còn lại thì nhân viên sẽ đổ hết tất cả thức ăn, cả canh lẫn thịt vào một cái tô và xúc cho họ. Nhiều ông bà cụ nhai móm mém chưa xong miếng trước đã phải há miệng ra để nhận tiếp miếng sau.

Nhà dưỡng lão cho biết do lo ngại bụng dạ các cụ yếu nên thức ăn nấu rất nhạt và hầu như không có gia vị. Thành ra nhìn các cụ sau khi vào trại thì đều hồng hào, tăng cân (có lẽ một phần do ít vận động chăng), nhưng không cụ nào tỏ vẻ thích bữa ăn của trại. Họ đều mong chờ những ngày con cháu đến thăm, mang thức ăn hợp khẩu vị. Có cụ có tiền thì có thể mua thêm ít thức ăn vặt, nhưng rất hãn hữu.

Vài cụ ông còn khỏe mạnh thì nghe radio (tự mang vào), hoặc đọc báo. Nhưng báo cũng có rất ít loại. Sách không thấy cuốn nào. Không có thư viện mặc dù số người còn đọc được cũng khá đông.

Nhà dưỡng lão có các hoạt động văn nghệ nhưng tôi không gặp.
Phòng ngủ thường có 4 giường sắt cỡ 80 cm, đệm bọc simili thường gặp ở bệnh viện. Toilet chung nằm ở bên ngoài. Tuần hai hoặc ba lần, các cụ được tắm. Nhà tắm là một phòng chung rất đơn giản chia làm hai phần, bên trong là khu vực tắm với mấy vòi nước, thông thống không có gì che chắn. Nhân viên sẽ đẩy ba cụ vào một lần, xối nước tắm rồi đẩy ra ngoài, lau khô, mặc áo quần. Không còn gì là riêng tư nữa. Tôi cho rằng điều đó gây tổn thương nhân phẩm của các cụ và nó làm tôi đau lòng.

Với 18 triệu đồng, các cụ sẽ được một phòng riêng, rất nhỏ nhưng có máy lạnh và toilet trong phòng.

Ở một nhà dưỡng lão khác quảng cáo là do Nhật đầu tư, tình hình vui vẻ hơn rất nhiều. Các cụ được mặc dùng tư trang cá nhân như áo quần riêng, bát chén, chăn gối…, tất cả. Chất lượng bữa ăn phong phú và ngon hơn, được đổi bữa thường xuyên, lượng trái cây và sữa cũng nhiều hơn. Các cụ ở trong phòng riêng một hoặc hai người, đầy đủ tiện nghi. Giờ ăn, họ ngồi quanh một bàn ăn ấm cúng giống như ở nhà. Nhân viên vẫn tắm cho các cụ nhưng tắm riêng từng người một, trong phòng tắm kín. Sự riêng tư được tôn trọng. Chất lượng cuộc sống và phục vụ ở đây tốt hơn hẳn so với nhà dưỡng lão Việt Nam, nhưng tất nhiên giá tiền cũng cao hơn. Và do họ không có cơ sở rộng nên nhà dưỡng lão chỉ nhận rất ít người.

Tất cả là nhà dưỡng lão tư nhân. Ở TP HCM có một nhà dưỡng lão Nhà nước, gọi là Nhà dưỡng lão Thị Nghè. Vào đây, ngoài tiền còn phải đáp ứng một số yêu cầu như là cán bộ có quá trình cống hiến cho nhà nước.

Người già dựa ai?

Có những nhóm bạn thấy rõ thực tế của cuộc sống xa con sau này, đồng thời cũng sợ hãi sự cô độc và thiếu thốn ở nhà dưỡng lão nên bàn nhau xây dựng các nhóm dưỡng lão gia đình. Chung tiền thuê một ngôi nhà có vườn gần biển hoặc gần núi tùy thích, sống chung với nhau và thuê người chăm sóc. Chi phí tất nhiên là cao, nhưng lúc ấy bán hết tài sản đi để lấy tiền sống những ngày cuối đời thì chẳng cần phải băn khoăn.

Đó có lẽ là mô hình tốt nhất.

Hoặc cũng có thể thuê người giúp việc sống với mình, nhưng như vậy sẽ rất buồn bã và cô đơn vì không có bạn bè; các nhu cầu tối quan trọng như dinh dưỡng, y tế cũng không đảm bảo.

Ở Việt Nam không có chế độ phúc lợi thuê người giúp việc chăm sóc người già yếu neo đơn, cho nên chỗ dựa cho người già hầu như chỉ có một cái gậy duy nhất: tiền.

Nếu con cháu có hiếu và có đủ điều kiện (thời gian, tiền bạc, tâm trí) để người già sống quây quần cùng con cháu đến cuối đời thì đó là cuộc sống hạnh phúc nhất. Tứ đại đồng đường, cha mẹ con cháu đều được nương tựa vào nhau cả về tinh thần và vật chất.

Có lần trong bệnh viện tôi gặp một đôi vợ chồng già không có con. Ông bệnh, bà vào chăm sóc nhưng chủ yếu động viên tinh thần. Hai cụ già đều trên 80 tuổi không thể chạy đi mua thức ăn hay các việc lặt vặt khác được. Có một anh con trai là cháu của ông bà hàng ngày mua thức ăn vào, nhưng anh cũng không sốt sắng gì lắm, chỉ làm theo trách nhiệm rồi về.

Bà cười nhạt nói với tôi: “Già dựa ai? Dựa tiền. Ai nuôi? Tiền nuôi. Mình có tiền còn sai nó làm được, chớ không thì nó cũng bỏ thôi con à”.

Chúng ta rồi ai cũng già đi, không chừa một ai, rồi ai cũng sẽ đến ngày mắt mờ, tai điếc, chân run và tè dầm ra tã. Bạn đời, bạn bè, đồng nghiệp, người hâm mộ đều đã mất đi hoặc đều run rẩy như ta cả.

Nhưng có ai nghĩ đến điều đó? Khi chúng ta còn trẻ như lũ con cháu bây giờ, chúng ta cũng y như chúng, không có lấy một giây nghĩ rằng sẽ có ngày bản thân già đi.


benh-dong-mach-vanh_0004014_710.jpeg

Hiện nay, bệnh tim mạch đã trở thành bệnh lý gây tử vong số một trên thế giới. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2015, hàng năm ước tính có tới 17,5 triệu người trên thế giới tử vong do bệnh tim mạch, trong đó chủ yếu là các bệnh tim mạch do xơ vữa.

Các bệnh lý tim mạch có thể chia thành 2 nhóm chính:

Nhóm 1: bệnh tim mạch do xơ vữa mạch máu (hoặc liên quan đến xơ vữa) như bệnh động mạch vành, mạch não, mạch ngoại vi và các vi mạch… và bệnh tim mạch không do xơ vữa (vd. Bệnh tim bẩm sinh, bệnh tim liên quan đến nhiễm trùng.).

Nhóm 2: Trong hai nhóm trên, bệnh tim mạch liên quan đến xơ vữa động mạch hiện đang trở thành nhóm bệnh lý chiếm tỷ lệ cao nhất và thường gặp nhất trong cộng đồng.

 

Bộ y tế đã đưa ra hướng dẫn rất cụ thể chi tiết nguyên nhân và cách điều trị bệnh này.

Mời Độc giả tham khảo văn bản.

QUYẾT ĐỊNH SỐ 5332/QĐ-BYT VỀ BAN HÀNH TÀI LIỆU CHUYÊN MÔN “THỰC HÀNH CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH MẠCH VÀNH


phat-huy-hieu-qua-vuon-thuoc-nam-tai-cac-tram-y-te-xa-2-1.jpg

Xin kính chào hội viên câu lạc bộ và các độc giả. CLB Y dược Truyền Thống Việt Tâm Bình An chia sẻ hoạt động tháng 1 năm 2022 trong việc bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu Việt.

Cơ sở thực hiện

  1. Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tướng chính phủ về việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liện đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 ngày

  2. Quyết định số 376/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chương trình phát triển công nghiệp dược, dược liệu sản xuất trong nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045

  3. Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao của Câu lạc bộ Y dược truyền thống Việt Tâm Bình an về Nghiên cứu đẩy mạnh phong trào sống thiện, sống khỏe, sống có ích cho xã hội, Phòng tránh các bệnh về Thân, Tâm

  4. Hỗ trợ Chi hội dinh dưỡng và trung tâm Y dược truyền thống Việt xây dựng Atlas Thực Phẩm – Dược liệu Việt Nam, biên soạn từ điển khoa học tâm linh Việt Nam liên quan đến lĩnh vực Y dược truyền thống Việt.

Câu Lạc Bộ Y Dược Truyền Thống Việt Tâm Bình An triển khai dự án bảo tồn và phát triển dược liệu bằng cây thuốc nam tập trung vào 1 số hoạt động chính :

a) Hỗ trợ, khuyến khích người dân, tổ chức phát triển nguồn cung dược liệu thông qua ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại trong nghiên cứu chọn tạo giống và kỹ thuật trồng cho năng suất, chất lượng cao, trong sơ chế và chiết xuất dược liệu nhằm tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ, có sức cạnh tranh trên thị trường phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Sử dụng các công nghệ sạch, thân thiện với môi trường và ít gây ô nhiễm.

b) Bảo tồn giống dược liệu tiên tiến, tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ mới của thế giới để triển khai phát triển dược liệu.

c) Sưu tầm, nghiên cứu kế thừa các bài thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc trong cộng đồng.

d) Đầu tư xây dựng  Trung tâm nghiên cứu nguồn gen và giống dược liệu để bảo tồn khai thác nguồn gen, phát triển giống, kỹ thuật nuôi trồng.

Trong quá trình thực hiện, Câu Lạc Bộ Y dược truyền thống Việt Tâm Bình An rất mong muốn được sự hợp tác, hỗ trợ từ  Nhà nghiên cứu khoa học, nhân dân, tổ chức có cùng mong muốn bảo tồn và phát triển Y dược truyền thống việt

Trân Trọng cám ơn

Chủ nhiệm CLB

Nguyễn Tuấn Bình


Bai-Tap-Cho-Nguoi-Ca.jpg

Covid – 19 đã và đang là đại dịch lớn làm ảnh hưởng đến hàng trăm triệu người trên toàn Thế giới. Để hạn chế mức độ lây lan cũng như ảnh hưởng của nó đến sức khỏe, thì ngoài việc tuân thủ các biện pháp 5K chúng ta cần tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Một trong những cách đơn giản nhất giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng chính là tập thở và tập vận động để có một cơ thể khỏe mạnh, dẻo dai.

 


giao-duc-gioi-tinh-cho-tre.jpg

Quá trình thụ tinh:

Vào ngày thứ 14 của chu kỳ kinh nguyệt 28 ngày quá trình thụ tinh diễn ra ở 1/3 ngoài của vòi trứng. Cực đầu của tinh trùng sẽ tiết ra men phá hủy lớp tế bào hạt và đi qua lớp màng trong của noãn. Khi cực đầu của tinh trùng đi qua màng trong thì màng trong thay đổi để không cho tinh trùng khác vào được nữa. Vào tới màng bào tương của noãn, cực đầu của tinh trùng mất đi, nhân của tinh trùng nằm trong bào tương của noãn. Nhân của tinh trùng trở thành tiền nhân đực và nhân của noãn trở thành tiền nhân cái. Hai tiền nhân đực và cái tiếp tục phát triển riêng rẽ sau đó xích lại gần nhau rồi kết hợp thành một nhân. Một tế bào mới được hình thành để phát triển thành thai và các phần phụ của thai, có đầy đủ bộ nhiễm sắc thể (46) gọi là trứng. Trứng phát triển và phân bào ngay.

 


photo1520935288747-1520935288747418241837.jpg

Lưỡi màu trắng là dấu hiệu có thể bạn bị tiểu đường, lưỡi màu đỏ khi cơ thể thiếu sắt, lưỡi màu xanh tím biểu hiện bệnh tim… Chiếc lưỡi khỏe mạnh có màu hồng nhạt, theo Men’s Healthy. Lưỡi có thể bị thay đổi màu trên lớp phủ. Độ dày của lớp phủ cho thấy mức độ vấn đề sức khỏe mà bạn đang gặp phải


nguyen-nhan-thoat-vi-dia-dem-5-15578000880391647059631-crop-1557800093716174396435.jpg

Các phương pháp chữa :

.  Thuốc giảm đau:  do bác sỹ kê đơn

.  Thuốc kháng viêm: Trong trường hợp kèm theo viêm nhiễm. Được được chỉ định của bác sỹ

.   Thuốc giãn cơ : Đẩy lùi sự co cơ.

.   Phẫu thuật: Trường hợp bác sỹ chỉ định phẫu thuật. Tuy nhiên lời khuyến của CLB Tâm Bình An:

–  Trước khi quyết định tiến hành phẫu thuật thì các hội viên nên tham vấn từ CLB nên hay không nên phẫu thuật. CLB có thể giới thiệu Bác sỹ đông y chuyên sâu vấn đề thoát vị địa đệm

 






Cách thức

Liên hệ với CLB

Tư vấn dinh dưỡng và sức khỏe online.


LIÊN HỆ KHẨN CẤP

Liên lạc 24/7
+842439100101



LIÊN HỆ NGOÀI GIỜ

Liên lạc 24/7
+842439101000



Tiếp cận

CÂU LẠC BỘ



Copyright by Công ty Thiện Tâm Việt Nam . All rights reserved.